SEN và BÙN
[MỘT CHÚT TRIẾT CHO ĐỜI THÊM VUI]
Trong đầm gì
đẹp bằng sen
Lá xanh bông
trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng
bông trắng lá xanh
Gần bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn.
Dường
như hầu hết người Việt đều biết bài Ca dao ca ngợi hoa sen trên đây:
Chủ đích của mấy câu ca dao này là ca ngợi vẻ đẹp và sự tinh khiết của
bông sen: tuy mọc lên từ bùn tanh nhưng không vướng mùi tanh của bùn. Từ đó,
hoa sen được dùng làm biểu tượng của sự cao quý, của sự vô nhiễm, nghĩa là
không bị lây, nhuốm hoặc bị chi phối bởi hoàn cảnh chung quanh .(Nhiễm có nghĩa
là “mắc phải”; “bị lây”; bị nhuộm)
Tuy nhiên, về phương diện hiện tượng luận (phenomenology) thì việc ca
ngợi này không ổn. Bởi vì, xét trên bình diện giá trị, sen tiêu biểu cho một
giá trị, thì bùn cũng tiêu biểu cho một giá trị khác, không thể đề cao giá trị
hoa sen mà hạ thấp giá trị của bùn.
Sen và bùn có một tương quan và tương duyên mật thiết, không có bùn
tanh thì không thể có hoa sen với hương thơm ngát.
Về mặt sinh học, Sen không thể mọc và phát triển ở những nơi không có
sình lầy và nhiều bùn. Bùn tanh chứa những dưỡng chất để nuôi cây sen.
Có lẽ vì hiện tượng này mà thi sĩ Phùng Quán đã viết:
“Mặc cho câu
ca được cả nước lưu truyền
Và đời vẫn
tin là ca ngợi phẩm cách của sen
Nhưng tôi
vẫn không thể nào tin được
Câu ca này
gốc gác tự nhân dân
Bởi câu ca
sặc mùi phản trắc
Của những
phường bội nghĩa vong ân!
Vốn con cái
của giai cấp cùng khổ
Chúng chòi
lên cuộc đời quyền lực vàng son
Nghĩ đến mẹ
cha chúng xấu hổ
Chúng mưu
toan giấu che từ bỏ
Nói xa gần
chúng mượn chuyện sen
“Nhị vàng
bông trắng lá xanh
Gần bùn mà
chẳng tanh hôi mùi bùn”
Tất cả là
trong cái chữ “gần”
Chỉ một chữ
mà thấu gan, thấu ruột
Những manh
tâm bội nghĩa vong ân.”
[...]
(“Hoa sen”
trích trong Nhớ Phùng Quán, Nxb Trẻ 2003)
Bài “Hoa sen” của thi sĩ Phùng Quán dường như ám chỉ những người cộng
sản nhờ thời cơ mà thành nhà cầm quyền, giàu sang, rồi không muốn nhìn lại quá
khứ cùng khổ của tổ tiên và cha mẹ mình. Phùng Quán cho rằng bài ca dao này
không do người dân thường làm ra mà do phường bội nghĩa vong ân, tìm cách xóa
nguồn cội.
Trong phạm vi đấu tranh giai cấp, Phùng Quán đã nêu lên được một vấn đề
thực tế. Nhưng trong kho tàng ca dao Việt Nam còn có nhiều câu ca dao khác cũng
sử dụng ảnh tượng sen với những ý hướng khác, chẳng hạn như “ước mơ đoàn tụ”
của một đôi tình nhân bị hoàn cảnh làm xa cách:
…Chưa biết nhau, sao không nói trước
Biết nhau rồi kẻ ngược người
xuôi
Bao giờ cho được đủ đôi
Như sen tịnh đế một chồi
hai hoa”
Hoặc để so sánh hai giá trị tương đương:
“Đấy vàng đây cũng đồng đen,
Đấy hoa sói trắng, đây sen
Tây Hồ…”
Hoặc hai phẩm chất sang-hèn:
“Hoa sen mọc bãi cát lầm
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa
sen
Thài lài mọc cạnh bờ sông
Tuy rằng xanh tốt vẫn tông
thài lài!
Ở đây, người ta đã dùng ảnh tượng sen và thài lài để khẳng định rằng
cái có phẩm chất cao (đẹp và quý) nếu gặp hoàn cảnh thuận lợi để phát triển thì
tốt, nhưng nếu chẳng may gặp hoàn cảnh không thuận lợi thì cũng vẫn là cái đẹp,
cái quý do nguồn gốc của nó vốn là cái đẹp, cái quý.
Trái lại cái tầm thường, cái ít giá trị hoặc không có giá trị, thì dù
gặp hoàn cảnh thuận lợi, gặp thời cơ tốt, mà phát huy hết khả năng, thì cũng
vẫn là cái tầm thường, ít giá trị, chứ không thể nhờ hoàn cảnh mà thay đổi được
bản chất, cội nguồn của thân phận, không thay đổi “tông” được…Thài lài vẫn là
thài lài.
Đây là ý hướng dùng biểu tượng sen để nói lên sự phân biệt giai cấp,
dòng giống trong tương quan xã hội với quan niệm không thể thay đổi được giai
cấp một cách thực sự. Nói cách khác, con người nhờ hoàn cảnh thuận lợi (gặp
thời) chỉ có thể thay đổi cái bề ngoài, chứ không thể thay đổi cốt cách của
giai cấp mà mình thống thuộc.
“Chị là con gái nhà giàu
Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa
sen
Em là con gái nhà hèn
Ăn mặc rách rưới, mon men
ngoài hè”
Bốn câu này cũng hàm ý phân biệt giai cấp, nhưng với thái độ thủ phận,
chấp nhận. Nhưng những câu sau đây thì biểu lộ ước mong và ý hướng đảo lộn giai
cấp, đấu tranh để đổi đời: kẻ hèn thành người sang và ngược lại:
“Ai cho vàng đá đua chen
Ai cho bèo nọ lộn sen một
bồn”
Và mong muốn một cuộc đổi đời táo bạo:
“Thân chị như cánh hoa sen
Chúng em như bèo, như bọt
chẳng chen được vào
Lạy trời cho cả mưa rào
Cho sấm, cho chớp, cho bão
to gió lớn
Cho sen chìm xuống. bèo trèo
lên trên!”
HOA SEN
TIÊU BIỂU
CHO GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CAO QUÝ VÀ CỐT YẾU
Trở lại với bài ca dao quen thuộc trên đây:
Trong đầm gì
đẹp bằng sen
Lá xanh bông
trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng
bông trắng lá xanh
Gần bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn.
Ta thấy, sen tượng trưng cho một giá trị thẩm mỹ, nhưng trong đời sống
thường ngày, nếu đem so sánh với các loài hoa khác như hồng, đào, mai, huệ,
cúc… thì có thể sen không vượt trội được.
Thật vậy, người đời rất ít kẻ thích hoa sen. Kể cả khi đem sen so sánh
với các loài hoa cũng mọc từ dưới nước lên, như hoa súng, hoa lục bình… thì hoa
súng cũng được nhiều người ưa thích và trân trọng như hoa sen. Sau đây là một
bài văn ca ngợi hoa súng.
“Hoa súng.
“Dọc đầm đất quanh co, hai bên đầm rộng, ngòi dài. Cuối thu, sen đã tàn còn để rớt lại trên mặt nước những lá nhăn nheo như buồn một nỗi buồn ly biệt. Nước phẳng lặng, đồng ruộng phẳng lặng, ngọn cỏ xanh xanh.
Trên suốt một dải đầm sen, chỉ có lá cây súng tròn như một cái bánh đa, nổi trên mặt nước, duyên keo kết với nước, phô cả bộ mặt với trời xanh như tận hưởng tình của đất trời. Có những chiếc lá hơi tím vàng, có chiếc còn xanh mơn mởn. Nước phô bày một màu áo, như xô đẩy lên trên mặt một linh hồn. Giữa đám lá tẻ ngắt, bỗng ở phía bên kia hồ xa cách đường cái không bao nhiêu, lộ một bông hoa súng màu thanh thiên. Người du khách lơ đãng sẽ không trông thấy nó đâu vì nó không hề rực rỡ.
Hoa súng màu thiên thanh, duyên nợ nó với tôi là tất cả một lịch sử! Thuở còn bé, tôi trông nó nở ở trước nhà, trong một cái ao thân mật có lũy phía ngoài.
Ngõ nhà tôi mở thẳng ra bờ ao. Cái ngõ nhỏ có mái, có xà tre đánh đu được, nay tôi còn trông rõ quá ! Khi xưa, tựa ở đó, tôi mong thấy mẹ tôi đi xa về hoặc dì tôi sang chơi. Lúc ấy tâm hồn còn trẻ của tôi ( tôi mới lên sáu ,lên bảy ), kinh nghiệm sự đời bằng giác quan, tôi cảm vẻ đẹp và “ một cái gì lâng lâng thanh thiết” ở bông hoa súng, nở không biết về mùa nào.
Mười lăm năm trời sau đó, không thấy thứ hoa đó nữa, bởi một lẽ dễ hiểu là tôi đã ra thành thị…Rồi cách đây một năm, cuối mùa thu vào chơi làng Triều Khúc ở Hà Đông với một người bạn, tôi mới lại được trông thấy một bông hoa súng đúng lúc vừa vặn nở ở một cái ao nhỏ gần một cái quán đầu làng. Vẫn hoa cô lập ngoi lên mặt nước độ hai gang tay, cánh bao dưới màu phớt nâu, cánh hoa thon thon, màu thiên thanh man mác, làm rạng cả mặt hồ.
Rồi năm nay cách ngày ấy một năm, trên một con đường gập ghềnh, ngồi trên xe đạp, tôi lại trông thấy hoa súng lần thứ ba. Vẫn nó ẩn hiện dưới mặt trời và sắc nước, nở êm như ru, không yến oanh, không ong bướm, không tỏa hương ngát, bao giờ cũng đứng đơn chiếc.”
Theo Đinh Gia Phong
(Báo Thanh Nghị , 74)*
“Dọc đầm đất quanh co, hai bên đầm rộng, ngòi dài. Cuối thu, sen đã tàn còn để rớt lại trên mặt nước những lá nhăn nheo như buồn một nỗi buồn ly biệt. Nước phẳng lặng, đồng ruộng phẳng lặng, ngọn cỏ xanh xanh.
Trên suốt một dải đầm sen, chỉ có lá cây súng tròn như một cái bánh đa, nổi trên mặt nước, duyên keo kết với nước, phô cả bộ mặt với trời xanh như tận hưởng tình của đất trời. Có những chiếc lá hơi tím vàng, có chiếc còn xanh mơn mởn. Nước phô bày một màu áo, như xô đẩy lên trên mặt một linh hồn. Giữa đám lá tẻ ngắt, bỗng ở phía bên kia hồ xa cách đường cái không bao nhiêu, lộ một bông hoa súng màu thanh thiên. Người du khách lơ đãng sẽ không trông thấy nó đâu vì nó không hề rực rỡ.
Hoa súng màu thiên thanh, duyên nợ nó với tôi là tất cả một lịch sử! Thuở còn bé, tôi trông nó nở ở trước nhà, trong một cái ao thân mật có lũy phía ngoài.
Ngõ nhà tôi mở thẳng ra bờ ao. Cái ngõ nhỏ có mái, có xà tre đánh đu được, nay tôi còn trông rõ quá ! Khi xưa, tựa ở đó, tôi mong thấy mẹ tôi đi xa về hoặc dì tôi sang chơi. Lúc ấy tâm hồn còn trẻ của tôi ( tôi mới lên sáu ,lên bảy ), kinh nghiệm sự đời bằng giác quan, tôi cảm vẻ đẹp và “ một cái gì lâng lâng thanh thiết” ở bông hoa súng, nở không biết về mùa nào.
Mười lăm năm trời sau đó, không thấy thứ hoa đó nữa, bởi một lẽ dễ hiểu là tôi đã ra thành thị…Rồi cách đây một năm, cuối mùa thu vào chơi làng Triều Khúc ở Hà Đông với một người bạn, tôi mới lại được trông thấy một bông hoa súng đúng lúc vừa vặn nở ở một cái ao nhỏ gần một cái quán đầu làng. Vẫn hoa cô lập ngoi lên mặt nước độ hai gang tay, cánh bao dưới màu phớt nâu, cánh hoa thon thon, màu thiên thanh man mác, làm rạng cả mặt hồ.
Rồi năm nay cách ngày ấy một năm, trên một con đường gập ghềnh, ngồi trên xe đạp, tôi lại trông thấy hoa súng lần thứ ba. Vẫn nó ẩn hiện dưới mặt trời và sắc nước, nở êm như ru, không yến oanh, không ong bướm, không tỏa hương ngát, bao giờ cũng đứng đơn chiếc.”
Theo Đinh Gia Phong
(Báo Thanh Nghị , 74)*
Tại sao
hình tượng sen được tôn vinh hơn các loài hoa khác?
Có thể nói việc đề cao hoa sen như là một loài hoa đẹp mọc lên từ bùn
và nước chỉ là ý tưởng phụ. Ý tưởng chính trong bài ca dao trên là đề cao cái
đẹp đạo đức, cao quý và thanh khiết.
Thật vậy, Sen mọc lên từ bùn. Bùn có mùi tanh, chất dơ hôi, nhưng hoa
sen lại thơm, hương xông ngát bầu không khí. Do đó, sen được tượng trưng cho
một con người “vô nhiễm” nghĩa là mặc dầu “bị” sống trong một hoàn cảnh xấu,
một môi trường đầy bẩn nhơ, tội lỗi, nhưng vẫn giữ được sự trong sạch, đạo
hạnh, liêm khiết và thánh thiện.
Sen được dùng làm biểu tượng cho con người lý tưởng trong quan điểm đạo
đức dân gian, tượng trưng cho quân tử trong Nho giáo “Liên hoa quân tử”, cho
đức Vô nhiễm (gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn).
Liên hoa
quân tử
“Diễm tuyết
hữu thần hương mãn địa
Linh nê bất
nhiễm, tích toàn thiêu”
Dầy đất hương thần tràn khí vị
Gần bùn mà chẳng vướng tanh hôi”
(Tạp chí Minh Tân số 19-25-1-1964 Saigon)
Vào thời nhà Tống (Trung Hoa) Chu Liêm Khê viết bài “Ái Liên thuyết”
gọi hoa sen là “quân tử hoa”.
“Ái liên thuyết
Thuỷ lục
thảo mộc chi hoa, khả ái giả thậm phồn. Tấn Đào Uyên Minh độc ái cúc; tự Lý
Đường lai, thế nhân thịnh ái mẫu đơn; dư độc ái liên chi xuất ô nê nhi bất
nhiễm, trạc thanh liên nhi bất yễu, trung
thông ngoại trực, bất mạn bất chi, hương viễn ích thanh, đình đình tịnh thực,
khả viễn quan
nhi bất khả tiết ngoạn yên. Dư vị cúc, hoa chi
ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã.
Y! Cúc chi ái, Đào hậu tiển hữu văn; liên chi ái, đồng dư giả hà nhân; mẫu đơn
chi ái, nghi hồ chúng hĩ.
Về lòng yêu hoa sen
“Bông của
cây cỏ dưới nước trên bờ, nhiều loài dễ mến. Đào Uyên Minh đời Tấn riêng một
mình thích cúc; từ triều Đường của họ Lý tới nay, người đời rất thích mẫu đơn;
riêng tôi, tôi thích hoa sen từ bùn mọc lên mà không nhơ, trơ trọi trên nước
lăn tăn mà không ẻo lả, bên trong thông suốt bên ngoài thẳng ngay,
chẳng bò dưới đất (không hệ luỵ) chẳng phát nhánh cành (không bè cánh), mùi
thơm truyền xa càng tinh khiết, cắm yên đứng thẳng (hiên ngang, ngay thẳng), có
thể ngắm từ xa, nhìn không chán. Tôi nghĩ rằng hoa cúc là hoa của kẻ ẩn dật;
hoa mẫu đơn là hoa của bực giàu sang; hoa sen là hoa của người quân tử vậy. Ôi!
Yêu thích hoa cúc, sau họ Đào vẫn còn có vài người; có ai yêu thích hoa sen
cùng với ta nào; còn yêu thích mẫu đơn thì có nhiều kẻ đến thế ư.”
Trong lịch sử Việt Nam, Mạc Đỉnh
Chi (1280-1350) một danh sĩ đời vua Trần Anh Tông, thi đỗ Trạng Nguyên năm
Giáp Thân (1304), lúc 24 tuổi. Thấy Mạc Đỉnh Chi tướng mạo xấu xí, vua chê
không muốn cho vào chầu lại có ý muốn nhường chức Trạng này cho một người khác.
Mạc Đỉnh Chi bèn làm bài phú nhan đề “Ngọc Tỉnh Liên” dâng lên vua ngự lãm. Nội
dung “Ngọc tỉnh liên phú” Mạc Đỉnh Chi tự ví mình với hoa sen quý trong giếng
ngọc. Nhờ bài này mà Mạc Đỉnh Chi được vua khâm phục, giữ vững chức Trạng
Nguyên.
“Ngọc tỉnh liên phú”
Khách hữu:
Ẩn kỷ cao trai, hạ nhật chính ngọ.
Lâm bích thuỷ chi thanh trì, vịnh phù dung chi Nhạc phủ.
Hốt hữu nhân yên:
Dã kỳ phục, hoàng kỳ quan.
Huýnh xuất trần chi tiên cốt, lẫm tích cốc chi cù nhan.
Vấn chi hà lai, viết tòng Hoa San.
Nãi thụ chi kỷ, nãi sử chi toạ.
Phá Đông Lăng chi qua, trãi Dao Trì chi quả,
Tái ngôn chi lang, tái tiếu chi tha.
Ký nhi mục khách viết:
Tử phi ái liên chi quân tử gia!
Ngã hữu dị chủng, tàng chi tụ gian.
Phi đào lý chi thô tục, phi mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chi cẩu kỷ, phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc, phi Linh quân cửu uyển chi lan.
Nãi Thái Hoa san đầu ngọc tỉnh chi liên.
Khách viết:
Dị tai! Khởi sở vị ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng, lãnh như sương hề cam tỷ mật giả gia!
Tích văn kỳ danh, kim đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hân nhiên, nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất.
Nãi phất thập dạng chi tiên, thử ngũ sắc chi bút.
Dĩ nhi ca viết:
Giá thuỷ tinh hề vi cung,
Tạc lưu ly hề vi hộ.
Toái pha ly hề vi nê,
Sái minh châu hề vi lộ,
Hương phức uất hề tằng tiêu,
Đế văn phong hề nữ mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương,
Tố Nga phân hề nữ đố.
Thái dao thảo hề Phương châu,
Vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vi hề trung lưu,
Hạp tương phản hề cố vũ.
Khởi hộ lạc hề vô dung,
Thán thiền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a,
Quả hà thương hề phong vũ.
Khủng phương hồng hề dao lạc,
Mỹ nhân lai hề tuế mộ.
Đạo sĩ văn nhi thán viết:
Tử hà vi ai thả oán dã.
Độc bất kiến Phượng Hoàng trì thượng chi tử vi, Bạch Ngọc đường tiền chi hồng dược!
Quýnh địa vị chi thanh cao, ái thanh danh chi chiêu chước.
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều, tử độc hà chi hồ tao nhân chi quốc!
Ư thị hữu cảm kỳ ngôn, khởi kính khởi mộ.
Nga Thành Trai đình thượng chi thi, canh Xương Lê phong đầu chi cú.
Khiếu xương hạp dĩ phi tâm, kính hiến "Ngọc tỉnh liên" chi phú.
Ẩn kỷ cao trai, hạ nhật chính ngọ.
Lâm bích thuỷ chi thanh trì, vịnh phù dung chi Nhạc phủ.
Hốt hữu nhân yên:
Dã kỳ phục, hoàng kỳ quan.
Huýnh xuất trần chi tiên cốt, lẫm tích cốc chi cù nhan.
Vấn chi hà lai, viết tòng Hoa San.
Nãi thụ chi kỷ, nãi sử chi toạ.
Phá Đông Lăng chi qua, trãi Dao Trì chi quả,
Tái ngôn chi lang, tái tiếu chi tha.
Ký nhi mục khách viết:
Tử phi ái liên chi quân tử gia!
Ngã hữu dị chủng, tàng chi tụ gian.
Phi đào lý chi thô tục, phi mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chi cẩu kỷ, phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chi cúc, phi Linh quân cửu uyển chi lan.
Nãi Thái Hoa san đầu ngọc tỉnh chi liên.
Khách viết:
Dị tai! Khởi sở vị ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng, lãnh như sương hề cam tỷ mật giả gia!
Tích văn kỳ danh, kim đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hân nhiên, nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất.
Nãi phất thập dạng chi tiên, thử ngũ sắc chi bút.
Dĩ nhi ca viết:
Giá thuỷ tinh hề vi cung,
Tạc lưu ly hề vi hộ.
Toái pha ly hề vi nê,
Sái minh châu hề vi lộ,
Hương phức uất hề tằng tiêu,
Đế văn phong hề nữ mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương,
Tố Nga phân hề nữ đố.
Thái dao thảo hề Phương châu,
Vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vi hề trung lưu,
Hạp tương phản hề cố vũ.
Khởi hộ lạc hề vô dung,
Thán thiền quyên hề đa ngộ.
Cẩu dư bính chi bất a,
Quả hà thương hề phong vũ.
Khủng phương hồng hề dao lạc,
Mỹ nhân lai hề tuế mộ.
Đạo sĩ văn nhi thán viết:
Tử hà vi ai thả oán dã.
Độc bất kiến Phượng Hoàng trì thượng chi tử vi, Bạch Ngọc đường tiền chi hồng dược!
Quýnh địa vị chi thanh cao, ái thanh danh chi chiêu chước.
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều, tử độc hà chi hồ tao nhân chi quốc!
Ư thị hữu cảm kỳ ngôn, khởi kính khởi mộ.
Nga Thành Trai đình thượng chi thi, canh Xương Lê phong đầu chi cú.
Khiếu xương hạp dĩ phi tâm, kính hiến "Ngọc tỉnh liên" chi phú.
Phú
sen trong giếng (bản dịch của Phan Võ)
Khách có kẻ:
Nhà cao tựa ghế; trưa hạ nắng nồng.
Ao trong ngắm làn nước biếc; Nhạc phủ vịnh khúc phù dung.
Chợt có người:
Mặc áo quê; đội mũ vàng.
Tiên phong đạo cốt; khác xa trần gian.
Hỏi "Ở đâu lại", rằng "Từ Hoa San".
Bèn bắc ghế; bèn mời ngồi.
Dưa Đông Lăng đem cắt; quả Dao trì đem mời.
Bèn sang sảng nói, bèn ha hả cười.
Đoạn rồi, trông khách mà rằng:
Anh cũng là người quân tử ưa hoa sen đó chăng?
Ta có giống lạ trong ống áo này.
Chẳng phải như đào trần lý tục; chẳng phải như trúc cỗi mai gầy.
Câu kỷ phòng tăng khó sánh; mẫu đơn đất Lạc nào tầy.
Giậu Đào Lệnh cúc sao ví được; vườn Linh Quân lan khó sánh thay!
Ấy là giống sen giếng ngọc ở đầu núi Thái hoa đây.
Khách rằng:
Lạ thay! Có phải người xưa từng bảo: "Ngó như thuyền mà hoa mười trượng, lạnh như sương mà ngọt như mật" đó ư ?
Trước vẫn nghe tiếng, nay mới thấy thật.
Đạo sĩ lòng vui hớn hở, lấy trong ống áo trưng bày.
Khách vừa trông thấy; lòng ngậm ngùi thay.
Giấy mười thức xếp sẵn; bút năm sắc thấm ngay.
Làm bài ca rằng:
Thủy tinh gác để làm cung
Cửa ngoài lóng lánh bao vòng lưu li
Bùn thời tán bột pha lê,
Hạt trai làm móc dầm dề tưới cây,
Mùi hương thơm ngát tầng mây,
Ngọc hoàng nghe cũng rủ đầy tình thương.
Lạnh lùng hạt quế không hương,
Tố Nga lại nổi ghen tuông tơi bời.
Bãi sông hái cỏ dạo chơi,
Bến Tương luống những trông vời Tương phi,
Giữa dòng lơ lửng làm chi,
Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.
Há rằng trống rỗng bất tài
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường
Sợ khi lạt thắm phai hương.
Mỹ nhân đến lúc muộn màng hết xuân.
Đạo sĩ nghe mà than rằng:
Sao anh lại ai oán như thế?
Anh không thấy: hoa tử vi trên ao Phượng hoàng, hoa hồng dược trước thềm Ngọc đường đó sao?
Địa vị cao cả; danh tiếng vẻ vang.
Triều minh thánh chúng ta đều được quý: cõi tao nhân anh đi mãi sao đang.
Khách bấy giờ:
Nghe lọt mấy lời; đem lòng kính một.
Ngâm thơ đình thượng của Thành Trai; họa câu phong đầu của Hàn Dũ.
Gõ cửa thiên môn, giãi tấc lòng, kính dâng bài "Ngọc tỉnh liên" phú”.
Khách có kẻ:
Nhà cao tựa ghế; trưa hạ nắng nồng.
Ao trong ngắm làn nước biếc; Nhạc phủ vịnh khúc phù dung.
Chợt có người:
Mặc áo quê; đội mũ vàng.
Tiên phong đạo cốt; khác xa trần gian.
Hỏi "Ở đâu lại", rằng "Từ Hoa San".
Bèn bắc ghế; bèn mời ngồi.
Dưa Đông Lăng đem cắt; quả Dao trì đem mời.
Bèn sang sảng nói, bèn ha hả cười.
Đoạn rồi, trông khách mà rằng:
Anh cũng là người quân tử ưa hoa sen đó chăng?
Ta có giống lạ trong ống áo này.
Chẳng phải như đào trần lý tục; chẳng phải như trúc cỗi mai gầy.
Câu kỷ phòng tăng khó sánh; mẫu đơn đất Lạc nào tầy.
Giậu Đào Lệnh cúc sao ví được; vườn Linh Quân lan khó sánh thay!
Ấy là giống sen giếng ngọc ở đầu núi Thái hoa đây.
Khách rằng:
Lạ thay! Có phải người xưa từng bảo: "Ngó như thuyền mà hoa mười trượng, lạnh như sương mà ngọt như mật" đó ư ?
Trước vẫn nghe tiếng, nay mới thấy thật.
Đạo sĩ lòng vui hớn hở, lấy trong ống áo trưng bày.
Khách vừa trông thấy; lòng ngậm ngùi thay.
Giấy mười thức xếp sẵn; bút năm sắc thấm ngay.
Làm bài ca rằng:
Thủy tinh gác để làm cung
Cửa ngoài lóng lánh bao vòng lưu li
Bùn thời tán bột pha lê,
Hạt trai làm móc dầm dề tưới cây,
Mùi hương thơm ngát tầng mây,
Ngọc hoàng nghe cũng rủ đầy tình thương.
Lạnh lùng hạt quế không hương,
Tố Nga lại nổi ghen tuông tơi bời.
Bãi sông hái cỏ dạo chơi,
Bến Tương luống những trông vời Tương phi,
Giữa dòng lơ lửng làm chi,
Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.
Há rằng trống rỗng bất tài
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường
Sợ khi lạt thắm phai hương.
Mỹ nhân đến lúc muộn màng hết xuân.
Đạo sĩ nghe mà than rằng:
Sao anh lại ai oán như thế?
Anh không thấy: hoa tử vi trên ao Phượng hoàng, hoa hồng dược trước thềm Ngọc đường đó sao?
Địa vị cao cả; danh tiếng vẻ vang.
Triều minh thánh chúng ta đều được quý: cõi tao nhân anh đi mãi sao đang.
Khách bấy giờ:
Nghe lọt mấy lời; đem lòng kính một.
Ngâm thơ đình thượng của Thành Trai; họa câu phong đầu của Hàn Dũ.
Gõ cửa thiên môn, giãi tấc lòng, kính dâng bài "Ngọc tỉnh liên" phú”.
Mạc Đỉnh Chi
làm quan suốt ba triều Anh Tông, Minh Tông và Hiến Tông, thăng đến tước Tả Bộc
Xạ Đại Liêu Ban. Bản chất liêm khiết được sĩ phu đương thời kính nể. Hai lần đi
sứ Trung Hoa, rất được danh sĩ ngoại quốc thán phục. Mạc Đỉnh Chi mất năm 1350,
thọ 70 tuổi.
Bài Ngọc Tỉnh Liên phú được cảm hứng từ bài Cổ ý của Hàn Dũ, sau đây:
“Ngọc Tỉnh Liên Thi” - Hàn Dũ
PHIÊN ÂM
Thái Hoá phong đầu Ngọc Tỉnh Liên,
Khai hoa thập trượng ngẫu như thuyền.
Lãnh tỷ tuyết sương cam tỷ mật,
Nhứt phiến nhập khẩu trầm kha thuyên.
Ngã dục cầu chi bất đạn viễn,
Thanh bích vô lộ nan di duyên.
An đắc trường thê thướng trích thật,
Há chúng thất trạch căn chu liên.
DỊCH NGHĨA
Sen Ngọc Tỉnh trên đầu núi Hoá,
Ngó tợ thuyền mười trượng hoa cao .
Lạnh như tuyết sương ngọt như mật ,
Ngậm một miếng bịnh trầm cũng khỏi .
Ta mong cầu khỏi sợ quanh co,
Sườn dốc xanh một không lối trèo .
Sao được thang dài leo lên hái,
Xuống trồng gốc sen trong bảy chằm. (từ trang Đào Viên Thi Các)
HOA SEN TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
Hoa sen được tôn
vinh không phải chỉ vì tính vô nhiễm và vẻ đẹp cao quý mà còn do lợi ích trong
đời sống con người, đặc biệt là người Á Đông.
1/ Sen trong ăn uống.
Hoa sen, ngó
sen, củ sen được dung để chế biến các món ăn bổ, sang, cầu kỳ, hiếm quý (chỉ những
người có phương tiện và điều kiện thời gian mới làm được). Hoa sen ướp trà (trà
mạn sen), hạt sen làm mứt, làm nhân bánh, nấu chè (cao cấp). Lá sen hấp cơm.
Xôi vân vân…
2/ Sen là một dược
phẩm quý: hạt sen (liên thạch, thạch liên tử) làm thuốc thanh tâm (nhẹ
tim), chữa lỵ, biếng ăn; liên nhục (nhân hạt) chữa tỳ hư, thần kinh suy nhược;
liên tâm (tim sen- mầm) chữa chứng tâm phiền, tức ngực, đau nhói ở tim…; liên
phòng (gương sen) chữa băng huyết phụ nữ, đau bụng do ứ máu; liên ngẫu (ngó
sen) chữa nôn ra máu, máu cam, di tinh, hoạt tinh; tua nhị sen, tim sen; liên
tu (nhị sen) chữa mất ngủ, hồi hộp, làm thuốc an thần.
3/ Trang trí: hoa sen có thể cắt cắm vào lọ, bình hoa để trang trí
bàn thờ, phòng khách. Hồ sent rang trí chùa, công viên, thủy tạ.
4/ Về Văn hóa: Hoa sen, bông sen thường được dung để chỉ những dụng
cụ hoặc một số công trình kiến trúc khoa học kỹ thuật, như “vòi sen”, “đài hoa
sen”
5/ Trong tôn giáo: nhiều thứ hoa được dùng
vào việc tế lễ, cúng bái, nhưng đặc biệt hoa sen được dung phổ biến ở xứ nóng
(như hoa huệ dung ở xứ lạnh).
Trong Phật giáo, hoa sen được đề cao, được
yêu quý và tôn vinh rất mực, bởi vì hoa sen mang nhiều đức tính cao, sang, mầu
nhiệm.
Hoa sen được nhắc đến trong nhiều văn bản kinh Phật
cũng như Puranas và Vệ Đà của Ấn Độ giáo.
“Người thực hiện bổn phận của mình mà không có sự
quyến luyến, dâng các kết quả cho Đấng tối cao, sẽ không bị ảnh hưởng bởi các
tác động tội lỗi, giống như lá sen không bị nước dính vào”. Bhagavad Gita 5.10.
Quá trình lịch sử
Thiền tông cũng gắn liền với hình ảnh hoa sen qua sự kiện Đức Phật truyền chánh
pháp nhãn tạng cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp ở hội Linh Sơn.
Kinh Phật kể rằng một
hôm trong pháp hội, Đức Phật im lặng,
tay cầm một cành hoa sen đưa lên trước mặt các đệ tử đang quay quần quanh Ngài. Hầu hết
đều lặng yên, không hiểu gì.
Riêng Ma-ha Ca-diếp mỉm cười tỏ ý lãnh hội được cái diệu lý ẩn trong cử
chỉ của Phật. Ma-ha Ca-diếp đã ngộ được và đáp lại bằng nụ cười. Lúc
đó Đức Phật mới nói: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thực
tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền nay
trao cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp”(Liên đăng hội yến).
Sau buổi thuyết
pháp, Đức Phật gọi Ma-ha Ca-diếp đến gần và mật truyền giáo pháp tối thượng…Rồi,
Ca-diếp truyền lại cho A-Nan. [Tính từ Ca-diếp qua A-Nan đến Bồ Đề Đạt Ma là 28
Tổ Thiền ở Ấn Độ. Sau đó truyền qua Trung Hoa, từ Bồ Đề Đạt ma đến Huệ Năng là
chấm dứt lối tâm truyền pháp yếu một thấy một trò.] (Chánh Trí Mai Thọ Truyền)
Trong truyền thuyết, sau khi đức Phật được sinh ra,
Ngài bước bảy bước và mỗi bước có một hoa sen đỡ chân cho Ngài. Hầu hết các
hình, tượng Phật đều có hoa sen ở dưới, gọi là tòa sen.
Các Đức Tính Của Hoa Sen Trong Phật
Giáo”
a/ Tính vô nhiễm: không bị ảnh hưởng của
môi trường, không lây cái xấu dù chung sống với nó.
b/ Tính trừng thanh: mọc trong nước có
bùn đã không nhiễm bùn mà còn làm cho bùn lắng nước trong, nghĩa là có thể chuyển
hóa hoàn cảnh chung quanh (chức năng của tu sĩ Phật giáo, của người quân tử).
c/ Sự tinh khiết: từ khi nở đến lúc tàn
không có bướm ong bén mảng vầy hoa hút nhị (như các loài hoa khác). Chính vì
tính chất này mà sen được chọn để cúng dường Tam Bảo. (theo Phan Bá Cầm trong
“Hoa Sen với Phật giáo”/ tạp chí Vạn Hạnh, số 4)
d/ Tính mầu nhiệm: hoa sen biểu trưng cho
“nhân quả đồng thời” (Diệu pháp Liên Hoa) trong gương sen đã có sẵn hạt – trong
quả đã có nhân.
Việc đề cao hoa
sen và xem sen như là hình tượng tiêu biểu của một giá trị thẩm mỹ, một giá trị
đạo đức cao quý là cần thiết trong một xã hội xấu xa, một hoàn cảnh đầy ô nhiễm
tinh thần. Trong trường hợp này, bốn câu ca dao trên sẽ có tác dụng khuyến
khích con người giữ gìn sự trong sạch trong hoàn cảnh bẩn nhơ. Nhưng nếu tổng
quát hóa ra toàn thể sinh hoạt xã hội nhân sinh thì không thể chấp nhận được.
Bởi vì quan điểm
trọng sen, khinh bùn đưa đến thái độ coi thường thế gian, cuộc đời, phủ nhận sự
hiện hữu cụ thể của thân phận làm người trong cuộc đời, chủ trương xuất thế,
thoát khỏi vòng tục lụy để trở thành thánh nhân.
Ca ngợi sự tinh
khiết của hoa sen vì hoa không gọi mời ong bướm, điểm này sẽ giống như ca ngợi
sự đồng trinh của người con gái. Đây là một quan niệm không thích đáng vì trái
với vận hành của thiên nhiên. Vì hoa sen có “nhân quả” đồng thời, nên hoa sen
có thể tự sinh sôi nẩy nở, hầu hết các thảo mộc khác đều nhờ đến ong bướm trong
việc kết quả và truyền giống.
Những gì thuộc về cuộc đời, thuộc về thân phận làm người tự bản thân
chúng không phải là cái xấu. Hoa-Bướm-Ong có một tương
quan và tương duyên thuộc về sinh tồn cùa vạn vật. Chuyện “hoa-bướm-ong” chỉ xấu
khi có lạm dụng và lợi dụng.
Sống đạo đức không nhất thiết phải là thoát ra khỏi cuộc đời trần tục,
trái lại cần phải dấn thân vào đời, càng sâu càng dễ chứng điều vi diệu của cuộc
sống (thậm thâm vi diệu pháp). Điều quan trọng là phải biết
dùng đời mà không để cho đời thao túng mình, như cây sen càng cắm sâu xuống bùn
càng có sức vươn mạnh lên cao…
Trong quan điểm này, bùn giống như xã hội, như cuộc đời… tất cả những gì thuộc về bùn không phải là cái để khinh chê, miệt thị,
đánh giá thấp mà là cái đáng biết ơn vì đã tạo điều kiện cho sen mọc, sen vươn
lên và nở hoa thơm ngát.
Trọng sen, khinh bùn là cái tâm phân biệt thiếu minh trí. Khuynh hướng cho cuộc đời là xấu xa, đau khổ, nhơ bẩn như bùn rồi hô
hào thoát ly, xuất thế để đi tìm chân lý, tìm thiện mỹ là một thái độ bất xứng,
có thể đánh giá là bội nghĩa vong ân.
Thật đấy, rút khỏi
bùn nhơ, nước đục cả cây lẫn hoa sen sẽ chết héo. Phủ nhận nơi sinh ra và nuôi
dưỡng có phải là một vong ân không? Mùi hương ngào ngạt, sắc hoa dịu dàng của
hoa sen từ đâu ra nếu không phải là do mùi tanh của bùn và nước hồ đục ngầu?
Khoa thực vật học cho biết hương thơm nơi các loài hoa chính là sự bài tiết của
thào mộc.
HÌNH TƯỢNG BÙN
Trong ca dao, tục
ngữ và văn chương Việt Nam xưa, bùn là hình tượng tiêu biểu cho cái hôi tanh,
dơ bẩn, lầy lụa, dễ bị dính, những cái không có giá trị, xấu xa.
- Lội bùn lấm chân
- Rẻ như đất bùn
- Bùn lầy nước đọng
- Để lâu cứt trâu hóa bùn (mất giá trị)
- Gót danh lợi bùn pha sắc xám (Cung Oán ngâm)
- Tiếc thay nước đã đánh phèn, Mà cho bùn lại vẩy lên mấy lần (Kiều)
Tiếp xúc với bùn
thấy lầy nhầy, dơ nhớp, lờn nhờn gây cảm giác khó chịu. Bùn không có sự đối
kháng khi đụng tới. Sau khi bị đụng, bị quậy, bùn từ từ trở lại dạng ban đầu.
Bùn cho phép các vật khác xuyên qua mình, nhưng sau đó bám sát, dính vào bao phủ
đối vật đã xuyên qua không chịu rời…Trót đã nhúng bùn thì khó mà rữa sạch.
Tóm lại, kinh nghiệm tiếp xúc với hoa sen và bùn cho
thấy khuynh hướng đề cao hoa sen và hạ thấp bùn ao là một triết lý xa rời thực
tế cuộc đời, không nhìn thấy rõ và thấy toàn thể tương quan, tương duyên của vũ
trụ.
Đây là một triết lý siêu nhiên, hướng đến thoát ly
cuộc đời cho nên có thái độ xem cuộc đời, vật chất là xấu, là ô trọc, là dơ bẩn
như bùn đen. Họ đánh giá thấp cuộc đời để hô hào đi tìm một nơi cao hơn, đẹp đẽ
hơn, bên trên cuộc đời. Cái tâm phân biệt này đã vấp phải một trở lực có tính
cách biện chứng. Đó là nếu không có cái thấp thì làm sao biết cái cao?
Ở đời, nếu tất cả mọi người đều cao sang thì không còn
ý nghĩa nữa bởi vì sẽ không có nhận thức về cao sang. Cái cao sang chỉ hiện hữu
khi có sự khác biệt nghĩa là khi đối chiếu với cái thấp hèn.
Thái độ coi thường bùn, chê bùn hôi tanh là một thái
độ lệch lạc, thiếu kiến thức về tâm-sinh-lý học. Sen sống cùng và sống với bùn,
tự thân hoa sen chắc chắn không có cảm giác về mùi của bùn.
Con người cũng vậy, khả năng thích nghi và thích ứng
bẩm sinh giúp cho con người hòa mình vào môi sinh. Người làm ruộng, người đi
bắt cá ở ao, đìa… “chân lấm, tay bùn” không nghe mùi tanh của bùn, không thấy
cái dơ bẩn của bùn. Người ở gần nơi sản xuất nước mắm lâu ngày không “ngửi
thấy” mùi nước mắm…
Về tương quan
xã hội, việc đánh giá thấp người “chân lấm tay bùn” và những môi sinh “bùn lầy
nước đọng” là thái độ vong ân. Không có người “chân lấm tay bùn”, “quê mùa thô
kệch” thì lấy đâu ra lúa gạo, hoa màu cho người “cao sang” ăn để tồn tại?
Do đó, không nên và không thể dùng cái tâm phân biệt
để nhận diện và nhận định các sự kiện, nhất là các giá trị trong cuộc đời.
SEN và BÙN là một nhất thể có hai mặt tác dụng, không
có cái nào hơn cái nào kém. Không có bùn thì không có sen, cũng như không có
tham, sân, si thì không có Phật.
Kinh Phật có câu “làm điều thiện cho đời bớt khổ” và
khuyến khích làm điều thiện. Nhưng cũng trong kinh Phật có câu “Hãy
từ bỏ điều thiện, nhất là điều ác! Kẻ nào đã sang sông thì không cần đến thuyền
nữa.”
NGUYỄN CHÂU
Mùa Hè Đinh Dậu -2017

Nhận xét
Đăng nhận xét