NGHI LỄ GIA ÐÌNH
VÀ PHẨM CÁCH CON NGƯỜI



Mọi dân tộc đều có một nếp sống riêng, khác với các dân tộc khác.Người tiền sử, sơ khai, người dã man hay văn minh... đều có những sinh hoạt xã hội, gia đình cần thiết, chỉ phân biệt nhau về trình độ tiến hóa. Tất cả những sinh hoạt của một dân tộc, một bộ lạc về mọi phương diện tức là văn hóa. Văn hóa mỗi dân tộc ngoài điểm khác nhau về trình độ, còn khác nhau do khu vực địa lý và nhất là về quan niệm triết lý về vũ trụ thiên nhiên, về thần linh và về con người.
Các sinh hoạt thường xuyên của một bộ lạc hay một dân tộc sẽ trở thành những tập quán, những phong tục. Tập quán và phong tục thường được biểu lộ và thể hiện trong các lễ nghi, hội hè định kỳ hay bất thường trong xã hội, trong làng xóm, trong gia đình.
Phong tục, tập quán thường biến đổi theo sự đổi thay của thời đại và theo trình độ suy tư của con người, theo sự xâm nhập hay giao lưu với văn hóa ngoại lai (do tiếp giáp hoặc do du nhập, xâm nhập).
Phong tục, tập quán và các lễ nghi thường chi phối hầu hết nếp sinh hoạt của một dân tộc, ảnh hưởng thật sâu sắc vào tâm tư tình cảm của con người, tạo nên những đặc tính riêng gọi là bản sắc dân tộc.
Do đó, các nhà dân tộc học (ethnographer) thường căn cứ vào những phong tục, tập quán, lễ nghi... để tìm hiểu nếp sống và đặc tính của một dân tộc. Vì phong tục tập quán là phản ảnh trung thực của đời sống tinh thần con người trong môi trường sinh hoạt thường xuyên của một xã hội, một bộ lạc, một quốc gia...
Thật vậy, cụ Lãng Nhân, khi giới thiệu tác phẩm “Nếp cũ” của học giả Toan Ánh, đã ghi nhận về cá tính dân tộc Việt Nam như sau:”Từ lúc tập tễnh biết đi, bập bẹ biết nói, đến khi biết nghe chuyện cổ tích bên bếp lửa ấm cúng, biết suy tư học hỏi nơi thày bạn nơi học đường, biết ngâm nga những vần thơ phú có dư âm dội vào tâm khảm, biết tưởng nhớ đến những người thân đã khuất, biết não lòng trước cảnh đau thương của đất nước, biết phẩn nộ trước nỗi bất công giày vò bao thế hệ, và trong những lúc nhàn hạ, biết thưởng thức những hương vị mộc mạc của quê hương, v... v... bấy nhiêu cái biết đã tạo thành một con người riêng biệt, quy tụ vào cá tính một dân tộc riêng biệt, không giống hẳn dân tộc nào khác.”
Qua nhận xét của cụ Lãng Nhân, chúng tôi nhận thấy vai trò của gia đình trong quá trình hình thành nhân cách và đào tạo nhân phẩm rất rõ rệt...
TƯƠNG QUAN GIỮA
GIA ÐÌNH - XÃ HỘI - QUỐC GIA
Hầu như mọi dân tộc trên thế giới đều lấy gia đình làm gốc. Gia đình được xem như là một tế bào của xã hội. Có gia đình mới có xã hội và quốc gia. Là đơn vị nhỏ nhất nhưng gia đình là nền tảng của một nước. Ðặc biệt trong tiếng Việt Nam, từ ngữ quốc gia đã nói lên tính chất bao hàm chặt chẽ giữa nhà và nước.
Hình thức sơ khai của gia đình là sự kết hợp giữa một nam và một nữ dưới một mái nhà với mục đích giúp nhau thỏa mãn các nhu cầu căn bản của cuộc sống và sinh con để cái để bảo đảm sự tồn tục của nòi giống. Nhiều nhà họp thành một làng, nhiều làng họp thành một nước. Theo lịch sử thì truyền thống hành chánh Việt Nam xưa chú trọng nhiều đến đơn vị làng. Sách vở thường nhắc đến hai chữ Làng Nước, thường nói đến Phép vua và Lệ làng... còn các đơn vị hành chánh trung gian kác như huyện tỉnh rất ít được nhắc đến. Phép Vua nhiều lúc phải dừng lại bên ngoài lũy tre xanh bao bọc thôn làng trong ý nghĩa của câu “Phép vua thua Lệ làng”.

Gia đình là nơi sinh sản ra con người và là nơi trực tiếp có ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm và hành vi của các cá nhân thành viên. Nói cách khác gia đình là môi trường đào tạo đầu tiên trực tiếp ảnh hưởng đến cách ăn ở, cư xử của con người trong xã hội và quốc gia sau này.
Truyền thống dân tộc Việt dành cho người cha nhiệm vụ phải dạy con nên người tốt, có ích cho xã hội. Sách “Tam Tự Kinh” ghi rằng “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá” nghĩa là “nuôi mà chẳng dạy là lỗi của người cha.” Và dạy con phải dạy từ thuở còn thơ. Khi đầu óc còn trong trắng phải tập cho con những điều hay, tốt... Nói chung đây là công việc giáo huấn tại gia đình, thường gọi là gia giáo. Mỗi gia đình tùy theo hoàn cảnh có một lối giáo huấn khác nhau ít nhiều về hình thức.
Nền giáo dục gia đình thường bị chi phối bởi những tập tục và hệ thống giá trị trong xã hội.Các phong tục tập quán của xã hội thâm nhập vào gia đình tạo nên một hệ thống nghi lễ trong các vấn đề Sinh, Tử, Giá, Thú... vân vân gọi chung là Gia Lễ.
VỊ TRÍ CỦA GIA LỄ TRONG GIA ÐÌNH
Thông thường trong các gia đình có “nề nếp” nghĩa là có truyền thống đạo đức thì Gia Lễ chiếm một vị trí quan trọng trong việc giáo dục con cái. Gia Lễ được tôn trọng hơn nhiều thứ khác trong sinh hoạt gia đình. Cho nên dù gặp hoàn cảnh khó khăn cũng phải cố giữ gia lễ, giữ nề nếp, “giấy rách phải giữ lấy lề” vì gia lễ là biểu hiện của gia phong, gia giáo. Gia phong, tương tự như khái niệm “Family Values” cuả Hoa Kỳ, do gia giáo mà ra. Gia giáo được thực hiện qua các lễ nghi trong gia đình, gọi chung là Gia Lễ.
Trong xã hội Việt Nam, gia lễ ảnh hưởng rất rõ rệt đến nhân cách và phẩm giá con người. Không có gia lễ, hay không tôn trọng gia lễ là thiếu giáo dục gia đình, là không biết “lễ nghĩa.”
Hậu quả của việc thiếu lễ nghĩa hoặc không biết đến gia lễ là cuộc sống của nhiều lớp người trẻ tuổi ngày nay, sau các cuộc chiến tranh, các đổi thay chính trị, nhất là sau năm 1975, trở nên bừa bãi, phóng túng, lạc lõng... không có khuôn phép thích hợp với đạo lý hay kỷ cương... Nói một cách cụ thể, rất nhiều thanh niên nam nữ tỏ ra không biết mình sẽ phải ứng xử như thế nào trước các việc như hôn nhân, tang chế và tế lễ, cúng bái vân vân... trong gia đình, không biết đến ý nghĩa của cái bàn thờ trong nhà... Do đó, khi đến nhà người khác họ đã có thái độ thiếu tế nhị, thiếu lễ độ vì không biết nể vì ai cả... Thái độ cuả họ đối với các phong tục truyền thống lại tệ hại hơn vì họ thường chỉ trích, bác bỏ một cách quá khích do thiếu hiểu biết.
Học giả Phạm Côn Sơn (người Ðồng Tháp/ Nam VN) đã cảm thấy xót xa trước cung cách ăn ở của nhiều thanh thiếu niên hiện nay tại Việt Nam, khi ông viết:
“Thế hệ xưa khi còn là trẻ nhỏ mới ba bốn tuổi đã biết “đi phải thưa về phải trình,” biết cung kính nội ngoại, biết lạy bàn thờ, ngày nay trẻ con “đi dông đi dài không ngại sợ ai”. Ra đường, trẻ nít thời trước biết chào hỏi người lớn cung kính, nói ra biết thưa, biết vâng, biết dạ, còn trẻ con ngày nay thì “phang ngang như bửa củi”, tục tằn, đánh chửi nhau, trâng tráo. Thậm chí đến đôi ba mươi tuổi, có người bị phê phán “không biết lễ nghĩa là gì”. “Không biết lễ nghĩa là gì” cũng có nghĩa là vô học, là ngu dốt, thiếu giáo dục gia đình.” (Phạm Côn Sơn- Gia Lễ Xưa Và Nay- XB Ðồng Tháp/1996)
Trích dẫn trên đây cho thấy phần nào sự băng hoại về nhân phẩm và lễ nghĩa của xã hội Việt Nam sau năm 1975, dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa.
GIA LỄ LÀ GÌ?
Nói một cách đơn giản, gia lễ là những tập tục được thực hiện hay cử hành định kỳ hay bất định kỳ trong một gia đình, một gia tộc (giòng họ). Ðịnh kỳ như Tết, giỗ, chạp, mừng thọ (sinh nhật), cúng tế tổ tiên, thần linh; không định kỳ như quan (có việc vui mừng), hôn (cưới hỏi), tang (đám ma người thân)...
GIA là nhà, thường hiểu là nơi cư trú của gia đình gồm các thành viên như vợ chồng, con cái, ông bà...( đôi khi có cả cô dì, chú bác...)

LỄ là những phép tắc khuôn mẫu được đặt ra nhằm mục đích làm cho con người điều hòa các hành vi, cử chỉ khi ăn ở trong nhà hoặc giao tiếp với người khác trong xã hội.
Chữ “Lễ” thường đi đôi với chữ “Phép” thành một từ ngữ kép “Lễ Phép”. Người có lễ phép là người biết tuân theo những quy ước nhất định trong đi, đứng, chọn chỗ ngồi, nói năng, ăn uống và trong các dịp quan, hôn, tang, tế, hiếu, hỉ...

“Lễ” còn chỉ các đồ vật dùng để tặng nhau trong các dịp có cử hành lễ liên quan đến một biến cố (event) của đời sống con người (giỗ, ká, mừng thọ, đám cưới, đám tang, có việc vui mừng...)
Nội dung của chữ lễ mang tính chất trang trọng và thiêng liêng. (Người Mỹ, Anh dùng chữ “holyday” chỉ ngày nghỉ lễ, nguyên ngữ có nghĩa là ngày thánh.).
Chữ “Lễ” còn đi kèm với chữ “Nghi” trong các từ ngữ như “Nghi Lễ” hoặc “Lễ Nghi”.
NGHI là mẫu mực, những quy ước về hình thức phải tuân theo để thể hiện đúng tinh thần và nội dung buổi lễ. Chữ “Nghi” còn đi kèm với chữ “Thức” như “Nghi Thức”. (Nghi còn có nghĩa là dáng vẻ bên ngoài của con người hay một vật gì...)
THỨC cũng có nghĩa là khuôn mẫu, nhưng là một loại khuôn mẫu thực dụng có tính cách cụ thể, cần thiết phải áp dụng khi làm một việc gì cho thành công (như ”dạng thức”, “công thức”...).
Lễ còn đi đôi với “Nghĩa”. “NGHĨA” ở đây là phạm trù thứ hai trong đạo làm người, trong lối (the way) xử thế, tiếp vật tức là cách ăn, ở, đối đãi, giao tiếp với đời, với con người và sự vật...

 “Nghĩa” bao gồm các mối tương giao hợp lý và hợp tình giữa người với người trong cuộc sống-cùng và sống-với, giữa người với sinh vật và sự vật trong tương quan sử dụng...
Như vậy, Lễ Nghĩa là khuôn thước căn bản của cách ăn ở, đối đãi nơi một con người xứng đáng với tư cách làm người, có giáo dục gia đình.
CHỮ LỄ
TRONG TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VIỆT NAM
Hầu hết những gia đình Việt Nam xưa đều trọng lễ nghĩa. Nền giáo dục lấy chữ Lễ làm đầu. Tại các trường tiểu học câu “Tiên học Lễ, hậu học Văn.” được ghi trên tường, trước mặt mọi người như một nguyên tắc căn bản của giáo huấn.
“Tiên Học Lễ” (Trước hết phải học Lễ) vì lễ là cách thức làm người. Phải học cách làm người trước rồi sau đó mới truyền thụ kiến thức, khoa học, nghề nghiệp...” Hậu Học Văn”.
Tại sao phải học làm người trước? Vấn đề này rất dễ hiểu. Muốn cho cuộc đời con người được an sinh, ổn định và tốt đẹp, thì kiến thức phải đi đôi với lương tâm, tài phải đi đôi với đức... Có tài mà không có đức hoặc thất đức thì sẽ nguy hại cho gia đình, xã hội, quốc gia và có khi cả nhân loại, như nhà văn Pháp, Francois Rabelais (1490-1553) đã nhận định “Science sans conscience n' est que ruine de l'âme” (trong Pantagruel, II. 8): Khoa học không lương tâm chỉ là sự tàn hại linh hồn. Và lịch sử nhân loại cũng đã ghi nhiều chương thảm khốc do sự kiện “khoa học không đi với lương tri”, tài năng không đi đôi với đạo đức...
Ðối với các dân tộc Á Ðông ( Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và Triều Tiên) Lễ là nền tảng của xã hội. Mọi giao tế giữa con người với nhau đều lấy Lễ làm đầu.
Sách Mạnh Tử ghi rằng:
“ Trắc ẩn chi tâm, Nhân chi đoan giã
“Tu ố chi tâm, Nghĩa giã
“Cung kính chi tâm, Lễ giã
“Thị phi chi tâm, Trí giã”
(Tấm lòng thương xót trước cảnh hoạn nạn của đồng loại là đầu mối của tình thương, lòng nhân ái; lòng oán ghét điều bất chính, tình cảm thấy hổ thẹn... là đầu mối của Nghĩa; lòng cung kính, khiêm nhường là đầu mối của Lễ; lòng cảm nhận ra điều phải, trái là đầu mối của Trí...).
Thu Giang Nguyễn Duy Cần, một học giả uyên bác của miền Nam Việt Nam trước 1975, đã viết “Lễ, theo Á Ðông, chẳng những có ý nghĩa là tự trị, tự chủ, mà cũng có nghĩa là Nhân nữa.... Tất cả thuật xử thế của người Á Ðông, đều ở trong một chữ Lễ.”
Người giữ được lễ nghĩa là người có khả năng làm chủ bản thân mình, biết tự trọng để giữ gìn tương giao xã hội, gia đình một cách tốt đẹp. Lễ nghĩa trong gia đình Việt Nam truyền thống được dạy và học ngay từ lúc đứa trẻ mới bập bẹ tập nói, chứ không phải chờ đợi tới tuổi nào đó rồi giao khoán trách nhiệm này cho nhà trường, cho thầy cô giáo. Ðứa trẻ từ lúc sinh ra đến khi lớn lên hầu hết đều gần gũi gia đình nhiều nhất cho nên sẽ hấp thụ rất nhiều phong cách và nề nếp của gia giáo.
Gia Giáo với nhũng Lễ Nghi căn bản sẽ un đúc nên phẩm chất và giá trị con người. Vì thế, những gia đình không có được nhận thức cơ bản này, hoặc nhận thức không thấu đáo, đầy đủ... do hoàn cảnh cá nhân, hoàn cảnh xã hội nhất là do chế độ chính trị... đã đi dài vào sai lạc, đã buông xuôi cho tuổi trẻ theo giòng thiếu giáo dục gia đình rồi trở nên hư hỏng.
SỰ CẦN THIẾT
CỦA CÁC LỄ NGHI TRONG GIA ÐÌNH
Sau bao nhiêu cuộc đổi dời vì vận nước nổi trôi, vì sự đời dâu biển, tâm tư tình cảm con người thường không thể vẹn nguyên... Quan niệm về cuộc sống cũng biến đổi, cho nên khi nói về “lễ nghĩa” trong gia đình, nhiều người đã lớn tiếng cho rằng:”Chỉ bày đặt ra một cách độc đoán, không có ý nghĩa gì,” rằng chỉ là do “Phú quý sinh lễ nghĩa” mà thôi... chẳng có gì quan trọng!
Một số người trong đó có một số thanh thiếu niên thế hệ 1960, 1970... cho rằng “gia lễ” chỉ là sự ràng buộc do các bậc cao niên đặt ra để kềm chế con cháu, làm cản trở sự phát triển tự nhiên của tuổi trẻ. Một số cho rằng gia lễ là những quy ước cổ hủ có từ thời phong kiến gây nhiều phiền phức, không hợp với đời sống mới nữa. Có người phán một câu gia lễ là những phong tục của Tàu, không nên theo nữa!
Theo sự khảo sát và tìm hiểu của chúng tôi thì sau năm 1975, cuộc khủng hoảng vễ lễ nghĩa đang xảy ra một cách đáng lo ngại tại quốc nội Việt Nam hơn là trong cộng đồng tị nạn hải ngoại. Báo chí trong nước từ một thập niên qua và hiện nay đã và đang lên tiếng báo động về suy thoái đạo đức trong xã hội. Khẩu hiệu “tiên học lễ hậu học văn” bị cho là phong kiến sau cuộc xâm chiếm miền Nam, đã bị tước bỏ đi, bây giờ lần lượt treo lên lại...
Cuộc sống của con người đích thực không phải chỉ có hiện tại và tương lai mà còn có mối liên hệ khá chặt chẽ với quá khứ. Quá khứ của một cá nhân, một gia đình, một giòng họ, một quốc gia... thường được nhắc nhở qua các nghi lễ. Lễ là dịp để con người nhìn lại dĩ vãng của mình, của gia đình, cuả giòng họ, của đất nuớc. Nhìn lại để tưởng nhớ công ơn tiền nhân, để tự hào hay để chiêm nghiệm lẽ hưng vong, rút ra bài học cho hiện tại và tương lai. Gia Lễ có mục đích nhắc nhở cho con người nhớ dến tổ tiên gia tộc. Chỉ cần một nén nhang với tấm lòng tưởng nhớ là đã thành một LỄ dâng lên tiên tổ, hướng về cội nguồn... Trong viễn tượng này, các nghi lễ trong gia đình hay trong xã hội đều rất cần thiết.
Những người hiểu sai, hiểu lệch lạc về Gia lễ... cần phải bình tâm mà nhận rằng: Xã hội và quốc gia chỉ được thăng tiến, khi các cá nhân phục vụ quốc gia, xã hội có phẩm chất cao về đạo đức lẫn tài năng.
Nếu cá nhân cầm quyền chỉ cần hội đủ các tiêu chuẩn của đảng, nhưng thiếu đạo đức, không biết lễ nghĩa, liêm sỉ... thì tránh sao khỏi cảnh tham ô, nhũng lạm, hà hiếp, bóc lột nhân dân, ăn cắp của nhà Nước, dĩ công vi tư... làm cho đất nước ngày một lụn bại, không cất đầu lên được...
Môi trường thuận lợi cho việc đào tạo những con người tốt là gia đình có lễ nghĩa. Kinh nghiệm cá nhân cũng như lịch sử đã cho thấy những cá nhân có phẩm chất cao, biết trọng danh dự và trách nhiệm... đều xuất thân từ các gia đình có gia phong, nghĩa là đã hấp thụ được một nền giáo dục gia đình với những nghi lễ chặt chẽ. Biết tôn trọng gia phong, con người tự nguyện giữ gìn gia lễ. Con nhà “có gia giáo” sẽ trở nên con hiếu và sẽ là tôi trung. Như vậy, các nghi lễ trong gia đình rất cần thiết cho việc giáo huấn con người. Nhìn vào cung cách ứng xử của cá nhân trong xã hội, người ta có thể biết được lễ nghĩa của một gia đình ra sao. Mỗi một gia đình đều thể hiện mức độ tinh thần và vật chất của mình trong các cuộc giao dịch. Người có lễ nghĩa, có văn hóa... không thể nào có những suy nghĩ lệch lạc, không thể có những lời nói, cách ăn xô bồ, bừa bãi, tục tằn... làm người khác khó chịu...
Các lễ nghi tập tục trong gia đình có tác dụng tăng phẩm chất cho con người, giúp các thành viên biết tự chủ để thích ứng với đời sống xã hội một cách chừng mực.
Từ ngữ “ăn ở có khuôn phép” là một lời khen ngợi dành cho những ai đã hưởng được một nền gia giáo đúng đắn.
Dân tộc Việt từ ngàn xưa vẫn tôn trọng lễ giáo cho nên tất cả những hành động của conngười vượt ra ngoài vòng lễ giáo đều bị chê trách, lên án... đặc biệt là trong hôn nhân.
Tuy nhiên vấn đề cần nghiên cứu một cách sâu rộng là chúng ta nên hiểu gia lễ như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, tránh những phí phạm do du nhập những nghi lễ xa lạ mà ta chưa hiểu được ý nghĩa. Trong phạm vi bài này chỉ xin nêu ra một vài vấn đề để cộng đồng cùng quan tâm tìm hiểu.
NGUYỄN CHÂU (Những Đặc Trưng Của Gia Đình Việt Nam)

Nhận xét